Thứ 6, ngày 16 tháng 8, 2019, 8:36:21 Chiều

Kỉ niệm 109 năm ngày sinh nhà quân sự lỗi lạc nhất lịch sử Việt Nam hiện đại

25/08/2020 15:10

Cứ đến những ngày Thu Tháng 8 mọi người con đất Việt lại hướng về mảnh đất Quảng Bình, nơi sinh ra Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người đã có cống hiến đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam.

Nhà sử học Dương Trung Quốc đã từng nhận định: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi vào thế kỷ này, đi vào lịch sử của dân tộc như một con người làm nên lịch sử, là một người viết sử và chính ông trở thành một nhân vật lịch sử”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Đại tướng là tấm gương sáng của người cộng sản kiên trung, là một nhà chiến lược quân sự thiên tài, đã lãnh đạo quân đội nhân dân Việt Nam giành chiến thắng trước những kẻ thù mạnh nhất là thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược.

Nghệ thuật quân sự Võ Nguyên Giáp5

Từ năm 1925 đến 1926, đồng chí tham gia phong trào học sinh ở Huế, năm 1927 tham gia Đảng Tân Việt cách mạng (một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).

Năm 1930, đồng chí bị địch bắt và kết án 2 năm tù. Sau khi ra tù, đồng chí tiếp tục hoạt động tuyên truyền, gây cơ sở cách mạng trong thanh niên, học sinh. Năm 1936, đồng chí hoạt động trong phong trào dân chủ bán hợp pháp của Đảng ở Hà Nội; là biên tập viên các báo của Đảng: “Tiếng nói của chúng ta”, “Tiến lên”, “Tập hợp”, “Thời báo”, “Tin tức”… Tham gia phong trào Đông Dương đại hội, đồng chí được bầu làm Chủ tịch Ủy ban báo chí Bắc Kỳ.

Tháng 6/1940, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Đầu năm 1941, đồng chí về nước, tham gia công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Cao-Bắc-Lạng.

Tháng 12/1944, đồng chí được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.

Tháng 4/1945, tại Hội nghị Quân sự Bắc Kỳ, đồng chí được cử vào Ủy ban Quân sự Bắc Kỳ. Từ tháng 5/1945, đồng chí là Tư lệnh các lực lượng vũ trang cách mạng mới, thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân; tháng 6/1945, đồng chí được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thành lập Ủy ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng.

Tháng 8/1945, đồng chí được cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc. Tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, đồng chí được bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam; là Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được bổ sung vào Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Hình ảnh có thể có: 3 người, đám đông và ngoài trời

Tháng 3/1946, đồng chí là Chủ tịch Quân sự, Ủy viên trong Chính phủ Liên hiệp; khi thành lập Quân ủy Trung ương, được cử làm Bí thư Quân ủy Trung ương. Tháng 10/1946, là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy quyền làm Tổng Chỉ huy Quân đội Nhân dân và Dân quân tự vệ Việt Nam. Tháng 1/1948, đồng chí được phong quân hàm Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tháng 2/1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, đồng chí được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.

Từ tháng 9/1955 đến tháng 12/1979, đồng chí là Phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Tháng 9/1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.

Tháng 12/1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.

Hình ảnh có thể có: 1 người, kính mắt và ảnh cận cảnh

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V và lần thứ VI của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương.

Từ tháng 1/1980, đồng chí là Phó Thủ tướng thường trực; từ tháng 4/1981 đến tháng 12/1986, là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Phó Thủ tướng Chính phủ).

Đồng chí liên tục được bầu làm Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII.

Hình ảnh có thể có: 12 người, ngoài trời

Do công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, uy tín lớn trong và ngoài nước, đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế…

Bậc thầy về kết hợp chiến tranh du kích với chính quy

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 là cuộc chiến tranh dài nhất lịch sử nhân loại. Trong cuộc chiến tranh ấy, Việt Nam luôn ở thế yếu hơn các đối thủ. Yếu hơn về mọi phương diện nhưng nghịch lý là Việt Nam lại luôn luôn nắm quyền chủ động chiến trường.

Trong 9 năm chống Pháp, chỉ sau chiến dịch Việt Bắc 1947, quân Pháp liền rơi vào thế bị động sau khi Đại tướng đưa vào thực thi kế hoạch phân tán bộ đội vào hoạt động trong vùng địch hậu. Cuốn tài liệu nổi tiếng của ông về vấn đề này là Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung.

Theo tinh thần này, các đơn vị lớn phân tán thành từng đại đội nhỏ, luồn sâu vào trong vùng địch tạm chiếm để làm chỗ dựa cho phong trào đồng thời phát triển thêm lực lượng. Khi cần thiết thì tập hợp lại thành những tiểu đoàn để tác chiến.

Ngay lập tức, “cú đấm” của quân Pháp đã đấm vào khoảng không vì không tìm đâu ra chủ lực của đối phương nhưng ở bất kỳ đâu chúng cũng bị đánh tơi tả, phải rút khỏi Việt Bắc. Theo sau thất bại ấy chúng phải về lo củng cố hậu phương, xây tháp canh, khống chế giao thông lập các vùng tề ngụy.

Các đại đội độc lập hoạt động trong vùng tạm chiếm chính là ý nghĩa khởi nguyên ban đầu cho sự kết hợp tuyệt diệu giữa chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích. Du kích có chủ lực hỗ trợ thì du kích mạnh, chủ lực có du kích hỗ trợ thì thông thuộc đường sá và có chỗ dựa vững chắc về các mặt hậu cần.

Đến kháng chiến chống Mỹ, sự kết hợp này lại tiếp tục được phát triển lên đỉnh cao mới. Lực lượng của ta tuy ít hơn Mỹ – Ngụy nhưng bất kỳ cuộc hành quân nào của chúng, đến đâu cũng bị bắn tỉa, đặt mìn là vì du kích ta có ở mọi nơi. Trong khi đó, chủ lực ta lại tập trung và thường xuyên cơ động đánh vào những nơi địch tương đối yếu hoặc do tập trung quân đi càn quét mà sơ hở.

Ngay cả trên miền Bắc, trong cuộc chiến chống sự phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, một cuộc chiến tưởng chừng chỉ có bộ đội chính quy với các khí tài hiện đại mới tham gia được. Nhưng thực tế đã cho thấy trong cuộc chiến ấy có sự tham gia của đủ 3 thứ quân. Chắc nhiều người vẫn còn nhớ hình ảnh các cụ già Hoằng Hóa bắn rơi máy bay với súng máy 12,7 mm hoặc các đội tự vệ nhà máy, đội dân quân ở Tam Đảo đã đặt súng đón lõng trên đường bay của máy bay F-111 để bắn rơi loại máy bay đắt tiền hiện đại nhất của Mỹ chỉ với súng bộ binh hoặc 12,7 mm.

Nghệ thuật quân sự Võ Nguyên Giáp

Tướng Peter Mac Donald – nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Anh khi viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ghi những dòng trang trọng: “Với 30 năm làm tổng tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự ở cấp cao nhất, ông tỏ ra là người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực của chiến tranh. Khó có vị tướng nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính qui. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có”.

Về chiến lược, chiến thuật quân sự

Hình ảnh có thể có: 1 người, đêm

Hơn 30 năm chỉ huy quân sự, Võ Nguyên Giáp chưa từng bao giờ phạm sai lầm về chiến lược. Ngược lại, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị, cùng với quân và dân Việt Nam anh hùng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã buộc 10 danh tướng tổng chỉ huy quân đội Pháp, Mỹ mắc sai lầm về chiến lược và thua trận, trong đó có 7 đại tướng Pháp: Philíp Lơcléc, Êchiên Valuy, C. Bledô, M.Các păngchiê, Đờ lát đờ tátxinhi, Raun Xalăng, Hăngri Nava và 3 đại tướng Mỹ là Oetsmolen, C.Abram, F.C. Uaayen.

Các thiên tài quân sự thường truyền lại binh thư, binh pháp cho người đời. Võ Nguyên Giáp đã dốc tâm nghiên cứu học thuyết quân sự của cả giai cấp vô sản và tư sản, cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Liên Xô, chiến tranh chống Nhật của Trung Quốc, lý luận quân sự của Claudơvít, những trận đánh của Napôlêông, đặc biệt là truyền thống đánh giặc của tổ tiên và dân tộc ta, những trận đánh thắng và không thắng của ta trong chống Pháp, chống Mỹ, đúc kết thành những nguyên tắc quân sự độc đáo, làm giàu thêm kho tàng lý luận quân sự Việt Nam.

Đại tướng không qua một trường lớp quân sự chính quy nào, không tiến thân bằng con đường quân sự học đường. Ông học tập và trưởng thành trong thực tế là chính. Chiến tranh luôn ẩn chứa nhiều yếu tố ngẫu nhiên không thể biết và lường trước được hết. Ông không xử trí chiến thuật quân sự bằng những “giải pháp quân sự cố định của học đường”, mà luôn xuất phát từ thực tế chiến trường để giải quyết mọi tình huống ngoài dự kiến và lật ngược thế cờ.

Nhà sử học người Pháp Gio óc giơ Bu đarren viết trên tờ báo Pháp Người quan sát mới bài: “Tướng Giáp suýt thua trong trận Điện Biên Phủ như thế nào?”. Nêu đầu đề khá giật gân nhưng ông ta phản biện khá thú vị, cụ thể: “Tướng Giáp đã hai lần tấn công thất bại con nhím Nà Sản”. Lần thứ nhất, dùng chiến thuật “Đầu nhọn, đuôi dài…” bị tổn thất mà không thắng. Lần thứ hai, sớm nhận ra Tướng Giáp sẽ thay đổi chiến thuật, chỉ đạo dùng cách đánh “Khoanh chặt để bắt sống con nhím”, Nava lập tức cho rút khỏi Nà Sản. Quân đội Việt Nam đã giải phóng được một vùng rộng lớn, nhưng thất bại về ý đồ và mục đích chính là tiêu diệt sinh lực địch.

Tướng Giáp dám cả gan “Khoanh chặt để bắt sống con nhím khổng lồ Điện Biên Phủ” là ông dám thế chấp sinh mạng chính trị của mình cho trận đánh, vì nếu thua ông ta sẽ mất hết, dù ông còn sống thì đó cũng chỉ là sự tồn tại.

Phải có một bản lĩnh lớn, ông mới thuyết phục được các cố vấn Trung Quốc từ bỏ ý định “Đánh nhanh, thắng nhanh với chiến thuật đầu nhọn, đuôi dài, nở hoa trong lòng địch”. Và mọi người đã chấp thuận cách đánh của ông - cách đánh của Việt Nam “Bao vây, đánh lấn, đánh chắc, tiến chắc” theo kiểu bóc vỏ, xẻ múi, nghiền hạt. Tướng Giáp đã bắt sống con nhím khổng lồ Điện Biên Phủ, không cho nó xổng chuồng”…

Tài nghi binh chiến dịch, đặc biệt là lý luận về “Trận đánh quyết định” của Võ Nguyên Giáp được giới quân sự thế giới rất chú ý và nghiên cứu. Ông cho rằng: Ta có thể đánh thắng địch trong khi chúng đông quân nhất, nhiều vũ khí nhất và ngay cả khi chúng cho là ta không thể thắng chúng, miễn là ta có cách đánh đúng, thích ứng với tình hình thực tế…

Ông rất sáng suốt, nhạy bén, sắc sảo và hành động một cách hết sức quyết liệt, mau lẹ, kịp thời trong nghệ thuật chớp thời cơ, không bỏ qua thời cơ “ngàn năm có một” nào khi thời cơ lịch sử đã đến và bắt tay thực hiện ngay học thuyết của mình về “Trận đánh quyết định” trong cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang tháng 8/1945, ở mặt trận Điện Biên Phủ, trong trận “Điện Biên Phủ trên không” và trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử Xuân 1975.

Sau khi khẳng định Hăngri Nava, Tổng chỉ huy quân Pháp cho chiếm đóng Điện Biên Phủ là một sai lầm nghiêm trọng về chiến lược, ông chấp nhận cuộc đối đầu lịch sử ngoài dự kiến, cho dù gặp phải vô vàn thách thức, khó khăn, gian khổ. Vấn đề còn lại với ông chỉ là cách đánh. Ông đã giải được bài toán hóc búa và làm nên một chiến thắng chấn động địa cầu, mở đầu cho sự tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.

Trong trận “Điện Biên Phủ trên không”, nhận rõ đế quốc Mỹ dốc toàn lực cho canh bạc cuối cùng, leo lên nấc thang tột đỉnh của chiến tranh, ông đã huy động sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân ở mức cao nhất, tập trung toàn bộ lực lượng mang tính quyết định ở những trọng điểm và quyết chiến điểm, chiến đấu ngoan cường, liên tục suốt 12 ngày đêm, bắn rơi 82 máy bay, trong đó có 34 “siêu pháo đài bay” B52, làm nên một kỳ tích vĩ đại nhất của những trận không chiến thế giới trong thế kỷ XX, buộc đối phương phải chấp nhận xuống thang và chấp nhận “Mỹ cút”.

Xuân 1975, sau chiến thắng Buôn Ma Thuột và địch rút bỏ Tây Nguyên, thời cơ chiến lược “Một ngày bằng hai mươi năm” đã đến. Ông nhất quyết không bỏ qua cơ hội có một không hai này. Đây là trận quyết chiến chiến lược, “Trận đánh quyết định” cuối cùng của chiến tranh Việt Nam. Võ Nguyên Giáp hạ quyết tâm lấy đòn tấn công quân sự với những quả đấm thép cực mạnh của quân chủ lực là chính, kết hợp với nổi dậy giành quyền làm chủ của quần chúng. Ông tung tất cả các quân đoàn vào trận đánh, kể cả lực lượng dự bị chiến lược của Tổng hành dinh. Đặc biệt là cho thành lập cánh quân phía Đông với lực lượng binh chủng hiệp đồng theo kiểu tập đoàn quân, làm mũi đột kích chủ yếu. Đồng thời, Ông hạ một mệnh lệnh bất hủ: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ”.

Bằng sức mạnh tổng hợp chiếm ưu thế tuyệt đối, Ông đã tổng chỉ huy công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam trong vòng chưa đầy 2 tháng, trong đó có cả quần đảo Trường Sa.

Tướng Oétmolen nhận định: “Võ Nguyên Giáp là một vị tướng vĩ đại. Ông Giáp có tất cả đức tính của một thống soái quân sự lớn, đó là sự quả đoán, tính kiên quyết, sức mạnh tinh thần, khả năng tập trung suy nghĩ và hành động, trí thông minh. Những vị tướng chỉ huy quân sự ở cấp cao buộc phải có đức tính này, nếu không, họ sẽ không tồn tại lâu được” .

Bách khoa toàn thư quân sự Bộ Quốc phòng Mỹ xuất bản năm 1993 viết: “Tài thao lược của Tướng Giáp về chiến lược, chiến thuật và hậu cần được kết hợp nhuần nhuyễn với chính trị và ngoại giao… Sức mạnh hơn hẳn về kinh tế, tính ưu việt về công nghệ cùng với sức mạnh áp đảo về quân sự và hỏa lực khổng lồ của các quốc gia phương Tây đã phải khuất phục trước tài thao lược của một vị tướng từng một thời là thầy giáo dạy sử” .

Nhà sử học quân sự Mỹ Xê xi B.Curi trong tác phẩm “Chiến thắng bằng mọi giá”, đã nhận xét: “…Võ Nguyên Giáp, vị Đại tướng thiên tài của Việt Nam. Ông không chỉ trở thành huyền thoại mà có lẽ còn trở thành một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của các thời đại. Trong lịch sử, ít người có những thành tựu quân sự sánh kịp Ông…” .

T/H

Bạn đang đọc bài viết "Kỉ niệm 109 năm ngày sinh nhà quân sự lỗi lạc nhất lịch sử Việt Nam hiện đại" tại chuyên mục THẾ GIỚI.

Mọi thông tin chia sẻ, phản hồi xin gửi về hòm thư (tinonline@gmail.com) hoặc số Hotline (028.3838.5568).